SINH LÝ BỆNH CỦA SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH

Tin Tức Sức Khỏe

Sinh lí bệnh:

Khi các van tĩnh mạch hoạt động bình thường, mọi hoạt động của chân là sẽ đẩy máu từ hệ tĩnh mạch nông vào

suy tĩnh mạch

hệ tĩnh mạch sâu và đi từ dưới lên trên qua một loạt các van. Trong khi máu đi thì áp lực của hệ tĩnh mạch chi dưới là gần bằng không. Khi đứng lại thì áp lực này trong giai đoạn đầu còn thấp. Dòng máu động mạch đổ đầy vào các tĩnh mạch môt cách từ từ và nguồn áp lực duy nhất của tĩnh mạch là áp lực thủy tĩnh của cột máu cao ngang mức của van gần nhất. Sau khi đứng một thời gian, các tĩnh mạch sẽ được đổ đầy hoàn toàn và các van tĩnh mạch sẽ được mở ra. Tại thời điểm này áp lực thủy tĩnh trong hệ tĩnh mạch sẽ tăng lên cao.

Khi các van tĩnh mạch bị hở ra thì áp lực trong hệ tĩnh mạch lúc đứng vẫn du trì ở trạng thái cao. Áp lực thủy tĩnh tăng trong và ngay sau khi đi

Áp lực tĩnh mạch cao là nguyên nhân gây ra nhiều biểu hiện của suy tĩnh mạch như phù, lắng đọng các phân tử protein ở trong tổ chức, thoát các hồng cầu, giảm dòng máu có trong động mạch và những rối loạn ở chỗ khác.

Không phải mọi hậu quả của suy tĩnh mạch đều là do tăng áp lực thủy tĩnh trong tĩnh mạch và không phải tất cả các bệnh nhân bị suy tĩnh mạch đều bị loét. Một số bệnh nhân bị loét tĩnh mạch nhưng mà áp lực tĩnh mạch lại không cao lắm.

Việc giảm khả năng đào thải lactate, cacbon dioxid và các sản phẩm hô hấp tế bào khác cũng góp phần gây ra các triệu chứng của bệnh e suy tĩnh mạch. Có thể định lượng được sự giảm khả năng đào thải của các chất ngoại sinh. Tiêm albumin đánh dấu phóng xạ tổ chức hoại tử ở chân, tốc độ thanh thải giảm rõ rệt do tắc các tĩnh mạch sâu hoặc hở các van tĩnh mạch sâu và nông. Mặc dù tác dụng này được xem như do ứ trệ máu tĩnh mạch, giảm sự đào thải các chất chuyển hóa của tế bào không phải luôn luôn do ứ trệ máu tĩnh mạch. Trong nhiều trường hợp dòng máu tĩnh mạch chảy bình thường, nhưng do tái tuần hoàn tại chỗ, máu tĩnh mạch đi lên qua các tĩnh mạch bình thường và đi xuống qua các tĩnh mạch bị hở van, đã làm kéo dài thời gian di chuyển trung bình của máu từ tim, phổi qua các tĩnh mạch ở chân và tay rồi trở lại tuần hoàn trung tâm.

Thời gian để máu được đánh dấu phóng xạ đi từ động mạch đùi đến chân và quay trở lại tuần hoàn trung tâm có liên quan chặt chẽ đến việc phát triển của các vết loét.

copy ghi nguồn:http://health-guru.org/

link bài viết:SINH LÝ BỆNH CỦA SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH

Không có phản hồi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Bệnh sỏi thận

Contents1 Đại cương2 Triệu chứng lâm sàng3 Biến chứng4 Điều trị4.1 Trong cơn đau:4.2 Điều trị ngoại khoa4.3 Điều trị dự phòng Đại cương Bệnh sỏi thận là bệnh hay gặp ở nam nhiều hơn ở nữ (gấp 3 lần) hay gặp ở lứa tuổi từ 30 trở lên. Sỏi …

Tin Tức Sức Khỏe
Sinh lý tiết niệu

Contents1 Cơ chế bài tiết niệu1.1 Liên quan giữa máu, dịch bao-man, nước tiểu.1.2 Ba giai đoạn của cơ thể bài tiết nước tiểu2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự bài tiết của thận3 Chức năng của thận: Cơ chế bài tiết niệu Liên quan giữa máu, dịch bao-man, …

Tin Tức Sức Khỏe
Bệnh viên gan virus

Contents1 Đại cương2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh2.1 Thời kì ủ bệnh2.2 Thời kì khởi phát2.3 Thời kì toàn phát ( thời kì vàng da)2.4 Thời kì lui bệnh3 Di chứng4 Điều trị4.1 Chế độ sinh hoạt:4.2 Thuốc điều trị:5 Phòng bệnh Đại cương Bệnh viêm gan virus là …

Thuốc tebexerol immunoxel 500ml